Quy định xử lý tội phạm mua bán người và mua bán người dưới 16 tuổi

28 Tháng 6 2022

Những năm gần đây, tình hình tội phạm mua bán người tại Việt Nam diễn biến phức tạp, với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi. Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đã quy định nhiều điểm mới liên quan đến các tội danh về mua bán người, đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, xử lý nghiêm khắc, triệt để loại tội phạm này. Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, Việt Nam đã ký nhiều hiệp định song phương, hiệp định tương trợ tư pháp về phòng, chống tội phạm với các nước, trong đó đều có nội dung phòng, chống tội phạm mua bán người. Những quy định cụ thể đó là:

Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định cụ thể 02 tội danh gồm Tội mua bán người và Tội mua bán người dưới 16 tuổi, nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn đấu tranh phòng chống loại tội phạm này, đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, xử lý triệt để loại tội phạm này. Đồng thời, quy định cụ thể các dấu hiệu cấu thành tội phạm, cho phù hợp với quy định của Nghị định thư về phòng chống mua bán người mà Việt Nam là thành viên. Theo đó, quy định 04 tội danh độc lập là Tội mua bán người ( Điều 150);Tội mua bán người dưới 16 tuổi (Điều 151); Tội đánh tráo người dưới 01 tuổi (Điều 152) và Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi (Điều 153) nhằm phân hóa trách nhiệm hình sự đối với từng tội phạm trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Cụ thể như sau: 

Đối với Tội mua bán người (Điều 150)

 Nhằm nội luật hóa các quy định có liên quan của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, góp phần tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người. Điều luật đã cụ thể hóa khái niệm mua bán người là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc bằng thủ đoạn khác thực hiện một trong các hành vi sau đây: Chuyển giao người để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác; Tiếp nhận người để giao tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác; Chuyển giao người để người khác bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác; Tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác; Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi chuyển giao người để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác hoặc để người khác hoặc để người khác bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác; Nạn nhân là người từ đủ 16 tuổi trở lên.

Khoản 7 Điều 2 Nghị Quyết số 02/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn vì mục đích vô nhân đạo khác là “sử dụng nạn nhân để làm thí nghiệm, buộc nạn nhân phải đi ăn xin hoặc sử dụng nạn nhân vào các mục đích tàn ác khác”.

Người sử dụng thủ đoạn môi giới hôn nhân với người nước ngoài bị truy cứu TNHS về tội mua bán người theo quy định tại Điều 150 BLHS nếu hành vi thuộc một trong các trường hợp sau đây: Cưỡng bức, đe dọa hoặc lừa gạt để buộc người khác kết hôn với người nước ngoài và chuyển giao người đó cho người nước ngoài để nhận tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác; Cưỡng bức, đe dọa hoặc lừa gạt để buộc người khác kết hôn với người nước ngoài và chuyển giao người đó cho người nước ngoài bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác; Lợi dụng thủ đoạn môi giới hôn nhân với người nước ngoài để tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để chuyển giao cho người nước ngoài bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác.

Trường hợp người môi giới biết mục đích của người nước ngoài là thông qua hoạt động xem mặt, chọn vợ (hoặc chồng) hoặc kết hôn để đưa người được chọn ra nước ngoài bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân, bán cho người khác hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác nhưng vẫn thực hiện hành vi môi giới để nhận tiền hoặc lợi ích vật chất khác của người nước ngoài thì bị truy cứu TNHS về tội mua bán người theo quy định tại Điều 150 BLHS.

Khoản 3 Điều 5 Nghị Quyết số 02/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn người tổ chức, cưỡng ép người khác ở lại nước ngoài không nhằm mục đích bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc không vì mục đích vô nhân đạo khác thì không bị truy cứu TNHS về tội mua bán người nhưng tùy từng trường hợp cụ thể mà bị truy cứu TNHS về Tội tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép (Điều 349) hoặc tội cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép (Điều 350).

Về hình phạt

Khoản 1 quy định mức hình phạt từ 05 năm đến 10 năm tù;

Khoản 2 quy định mức hình phạt từ 08 năm đến 15 năm tù;

Khoản 3 quy định mức hình phạt từ 12 năm đến 20 năm tù;

Khoản 4 quy định, Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Đối với Tội mua bán người dưới 16 tuổi(Điều 151)

 Điều luật này đã nội luật hóa các quy định của Nghị định thư về phòng, chống buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Theo quy định của điều luật, cấu thành cơ bản của tội mua bán người dưới 16 tuổi gồm có 02 yếu tố bắt buộc là hành vi phạm tội và mục đích phạm tội, điều luật không quy định thủ đoạn là yếu tố bắt buộc trong cấu thành cơ bản của tội phạm này, cụ thể:

Khoản 1 của điều luật quy định cụ thể hóa các hành vi mua bán người dưới 16 tuổi, bao gồm: Chuyển giao người dưới 16 tuổi để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo; Tiếp nhận người dưới 16 tuổi để giao tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, trừ trường hợp vì mục đích nhân đạoChuyển giao người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác; Tiếp nhận người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác; Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người dưới 16 tuổi để thực hiện hành vi chuyển giao người dưới 16 tuổi để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, (trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo) hoặc để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác.

Tại khoản 3 Điều 7 Nghị Quyết số 02/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn trường hợp vì mục đích nhân đạo có thể là trường hợp người biết người khác thực sự có nhu cầu nuôi con nhỏ (do hiếm muộn hoặc có lòng yêu trẻ) đã môi giới cho người này xin con nuôi của người vì hoàn cảnh gia đình khó khăn không có điều kiện nuôi con, muốn cho con đẻ của mình đi làm con nuôi và có nhận một khoản tiền từ việc cho con và việc môi giới. Đây là trường hợp vì mục đích nhân đạo nên người môi giới, người cho con mình đi làm con nuôi và người nhận con nuôi không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người dưới 16 tuổi.

Tại khoản 4 Điều 2 Nghị Quyết số 02/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn để bóc lột tình dục là trường hợp chuyển giao, tiếp nhận hoặc tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp nạn nhân nhằm chuyển giao cho người khác để thực hiện các hoạt động bóc lột tình dục (như tổ chức cho nhạn nhân bán dâm, đưa nạn nhân đến các cơ sở chứa mại dâm để bán dâm, sử dụng nạn nhân để sản xuất ấn phẩm khiêu dâm, trình diễn khiêu dâm, làm nô lệ tình dục...) hoặc tiếp nhận nạn nhân để phục vụ nhu cầu tình dục của chính mình. Để cưỡng bức lao động là trường hợp phạm tội nhằm buộc nạn nhân lao động trái ý muốn của họ.Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân là trường hợp phạm tội nhằm lấy một phần của cơ thể được hình thành từ nhiều loại mô khác nhau để thực hiện các chức năng sinh lý nhất định của nạn nhân. Ví dụ: để lấy quả thận, giác mạc...

Tại khoản 2 của điều luật, quy định các tình tiết định khung tăng nặng gồm:  Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Đối với từ 02 đến 05 người; Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, nếu không thuộc trường hợp đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân.

Tại khoản 3 của điều luật, quy định 07 tình tiết định khung tăng nặng, gồmcác tình tiết: Có tổ chức; Có tính chất chuyên nghiệp; Tái phạm nguy hiểm; Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân; Làm nạn nhân chết hoặc tự sát; Phạm tội đối với 06 người trở lên.

Về hình phạt:

Khoản 1 quy định mức hình phạt từ 07 đến 12 năm tù;

Khoản 2 quy định mức hình phạt từ 12 đến năm đến 20 năm tù;  

Khoản 3 quy định mức hình phạt từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

Khoản 4 quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản./.

                                                                              Dương Công Luyện

 

Top
We use cookies to improve our website. By continuing to use this website, you are giving consent to cookies being used. More details…